THÔNG TIN CÁ NHÂN


Tôi: Nguyễn Văn Lập
Sinh ngày: 10/10/1969
Quê: Đại Đinh, Ân Mỹ, Hoài Ân
Chuyên môn: Mỹ thuật
Sở thích: Thích đủ thứ !
Liên hệ giao lưu:
Email: vanlapthcsat@yahoo.com.vn
Điện thoại: 01694309004

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • LỊCH ÂM DƯƠNG

    THÔNG TIN VỀ THỜI TIẾT

    THỂ THAO THỜI NAY

    Thư mục

    Điều tra ý kiến

    Bạn thích nhất trang này ở vị trí nào?
    Phần giáo án
    Phần bài giảng
    Phần bài viết
    Phần sáng kiến kinh nghiệm
    Phần thủ thuật (code)

    Sắp xếp dữ liệu

    Ảnh ngẫu nhiên

    Dan_ngua_2.swf Danngua.swf Tetamlich9.swf Chuc_xuan.swf SN_trang_thay_Lap.swf SN_Van_Lap1.swf 6X1IHWmWkgTN.gif CHUC_MUNG_83_.swf DON_XUAN1.swf Nm1.swf Jingle__Bell_2012.swf Giang_sinh_vui_ve.swf MUNG_GIANG_SINH_2012.swf LOAN_HA_NOI.swf 2048flower1008wa8.jpg SN_VLAP.swf Snhat_lap.swf SN_trang_thay_Lap.swf Nguyen_Lap_dong_dua_1_.swf

    CỘNG ĐỒNG VIOLET

    THƯ GIẢN

    WEB THAM KHẢO

    XEM LỊCH ÂM DƯƠNG

    Clock

    Lập web: 05-12-2009

    Văn Lập xin chào

    1 khách và 0 thành viên

    LIÊN KẾT WEBSITE

    (open) CHAT VỚI LẬP

    KHU VIP

    THỜI TIẾT CÁC MIỀN

    GIÁ TRỊ WEBSITE


    My website is worth $99,387.24.

    GIAO DIỆN BLOG VIOLET
    "Thiết kế: Nguyễn Văn Lập"
    Gốc > BÀI VIẾT TỔNG HỢP > Giới thiệu bản thân >

    Tăng Bạt Hổ

    Tăng Bạt Hổ (1858 – 1906, chữ Hán: 曾拔虎), tự là Sư Triệu, hiệu là Điền Bát, tên thật là Tăng Doãn Văn, là chí sĩ Việt Nam tham gia chống Pháp cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20.

    Ông sinh ngày 19 tháng 7 năm 1858 tại làng An Thường, nay thuộc xã Ân Thạnh, huyện Hoài Ân, nằm cách huyện lỵ Hoài Ân khoảng 3 km về phía Đông Bắc, cách thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định khoảng 90 km về phía Tây Bắc.

    Lăng mộ Tăng Bạt Hổ tại khu nhà thờ cụ Phan Bội Châu, Huế
     Cuộc đời

    Năm 1872, khi mới 14 tuổi, Tăng Bạt Hổ đã tham gia chiến đấu chống Pháp trong hàng ngũ tướng cờ đen Lưu Vĩnh Phúc. Sau vụ binh biến đêm 22 tháng 5 năm Ất Dậu (1885) ở kinh thành Huế của phe chủ chiến do Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết cầm đầu thất bại, vua Hàm Nghi chạy về căn cứ Tân Sở, xuất chiếu Cần Vương kêu gọi sĩ phu cùng nhân dân đứng lên kháng chiến chống Pháp. Hưởng ứng chiếu Cần Vương, Tăng Bạt Hổ cùng với Phạm Toàn chiêu mộ binh lính, rèn đúc vũ khí xây dựng chiến khu chống Pháp tại vùng núi Kim Sơn (huyện Hoài Ân), quê hương ông, là một vùng rừng núi có địa thế hiểm trở.

    Bình Định bấy giờ phong trào kháng chiến chống Pháp phát triển mạnh và dần dần quy tụ dưới ngọn cờ lãnh đạo của Mai Xuân Thưởng. Tăng Bạt Hổ đã liên kết với lực lượng của Mai Xuân Thưởng và được giao nhiệm vụ giữ mặt trận phía bắc Bình Định. Ông cho quân cùng với Bùi Điền xây dựng và củng cố thêm khu Chóp Chài (Phù Mĩ) và hai đồn tại đèo Phủ Cũ và đèo Bình Đê.

    Thực dân Pháp và triều đình Nguyễn cử Nguyễn ThânTrần Bá Lộc đem quân đàn áp phong trào kháng chiến ở Bình Định. Đầu năm 1886 Tăng Bạt Hổ cử hai tướng là Bùi Điền và Đỗ Duyệt đem quân giao chiến với Nguyễn Thân nhưng bị thất bại. Ông tiếp tục chiêu mộ thêm binh sỹ, củng cố thêm các đồn lũy để chống lại quân của Nguyễn Thân, nhưng trước thế mạnh của địch, hầu hết các chiến lũy của nghĩa quân đều bị phá vỡ. Đầu năm 1887 Nguyễn Thân kéo đại quân triệt phá mật khu Kim Sơn, vây bắt Tăng Bạt Hổ. Mặc dù Nguyễn Thân không thực hiện được kế hoạch, nhưng do quân ít, vũ khí thô sơ nên cuối cùng nghĩa quân tan rã. Nghĩa quân tản mát rồi nương náu tại các bản làng Tây Nguyên.

    Sau khi cuộc khởi nghĩa bị đàn áp, Tăng Bạt Hổ vượt núi sang Lào, Xiêm, Trung Quốc, Nga, Nhật tìm Lưu Vĩnh Phúc nhưng Phúc đã chết. Ông quyết định theo nghề hàng hải, làm thủy thủ cho tàu buôn, vì thế có điều kiện quan sát văn minh của các nước và tìm thêm đồng chí. Nhờ nghề thủy thủ, ông thường qua lại Hoành Tân, Trường Kì và sau đó ít năm, ông thông thạo tiếng Nhật và được sung vào Hải quân Nhật Bản.

    Trong chiến tranh Nga-Nhật (1904 - 1905), vì lòng căm hờn người Âu, ông nguyện hi sinh giúp Nhật, nổi tiếng là quả cảm, có công trong những trận chiến Đài LiênLữ Thuận, và được thưởng huy chương quân công[cần dẫn nguồn]. Ngày khải hoàn, ông được dự bữa đại yến do Thiên hoàng Minh Trị đãi các tướng sĩ. Đỡ chén rượu của Thiên hoàng ngự rót thưởng, ông uống một hơi cạn rồi khóc lớn ở giữa triều đình. Thiên hoàng hỏi, ông giãi bày hết nỗi lòng:

    "Tôi vốn không phải là người Nhật mà là một người vong mạng Việt Nam. Sau khi thất bại trong việc chống Pháp, tôi trốn qua Xiêm, qua Trung Hoa rồi tới đây, may được Bệ hạ tin dùng. Nay thấy quý quốc thắng Nga, làm vẻ vang cho giống da vàng, tôi nghĩ đến tình cảnh nước tôi mà không cầm được giọt lệ".
    "Bao giờ dân nước tôi mới được một bữa yến như bữa này của quý quốc!"[1]

    Hết thảy các người dự yến đều chăm chú nhìn vẻ mặt cương nghị, nghe lời khảng khái của ông. Thiên hoàng Minh Trị khen ông là chân ái quốc an ủi ông mấy lời và từ đó các nhà cầm quyền Nhật rất có cảm tình với ông. Ông làm quen với các nghị sĩ Nhật như Khuyển Dưỡng Nghị, Đại Ôi Trọng Tín, tỏ ý muốn cầu viện Nhật để đuổi Pháp. Họ bảo phải chờ cơ hội vì Nhật Bản còn lo đánh Nga mà cũng chưa có hiềm khích gì với Pháp. Rồi họ khuyên ông:

    Trước hết các ông phải lo phát triển phong trào duy tân trong nước để nâng cao dân khí, dân trí cho đại sự dễ thành. Muốn duy tân, không thể trông cậy ở Pháp được vì Pháp không thực tâm khai hóa, nên phải lựa những thanh niên tuấn tú đưa qua đây, nước chúng tôi sẽ đào tạo cho.

    Khuyến Dưỡng Nghị lại hứa tận lực giúp cho các học sinh Việt Nam được phép cư trú và được miễn học phí. Tăng Bạt Hổ xét lời khuyên đó hữu lý, nên xin phép chính phủ Nhật, tức tốc về nước, không dự trận thủy chiến ở Đối Mã.

    Tăng Bạt Hổ về tới Hải Phòng cuối năm 1904, vào Quảng Nam, do Nguyễn Thành giới thiệu mà hội họp với Sào NamKỳ Ngoại Hầu Cường Để, đầu năm sau đưa Sào Nam và Đặng Tử Kính qua Nhật để cầu ngoại viện, tổ chức phong trào Đông Du. Năm 1905 ông về nước đem theo bài văn Khuyến thanh niên du học của Phan Bội Châu truyền bá, cổ động. Dưới chiếc áo thầy thuốc ông đi khắp nơi liên lạc tìm người cùng chí hướng, có lần gặp Nguyễn Quyền ở Lạng Sơn, họp với Nguyễn Thượng Hiền ở nhà cụ đốc Đinh Trạch tại Nam Định. Nghe tiếng cụ Lương Văn Can có nghĩa khí, được nghĩa hội văn thân ở Bắc tín nhiệm, ông tìm lại thăm tại nhà ở số 4 phố Hàng Đào, Hà Nội để bàn về tình hình trong nước và kế hoạch lâu dài. Tại đây hai cụ Tăng kể lại những lời khuyên của Khuyển Dưỡng Nghị và nhờ cụ Lương giới thiệu các thanh niên u tú sang Nhật du học. Và sau cuộc nói chuyện này, Lương Ngọc QuyếnLương Nghị Khanh trở thành hai sinh viên Đông Du đầu tiên. Năm 1906 trên đường từ Nam ra Huế ông lâm bệnh nặng rồi mất trên một chiếc thuyền trên sông Hương.

    Khi Tăng Bạt Hổ qua đời, Võ Bá Hạp cùng các đồng chí đồng sự đã đem táng thi hài ông trên một gò cao thuộc ấp Thế Lại Thượng. Năm 1956, Lê Ngọc Nghị - một nhân sĩ - đã cùng với một số hậu duệ các bậc tiền bối hợp tác cùng thân hào xã Thế Lại Thượng tổ chức lễ truy điệu và cải táng hài cốt Tăng Bạt Hổ lên chôn tại khu vườn nhà và lăng mộ Phan Bội Châu như hiện nay.[

    Khu vườn nhà của Tăng Bạt Hổ

    Tăng Bạt Hổ, một người con ưu tú của quê hương Bình Định. Quê ông là làng An Thường, nay thuộc xã Ân Thạnh, huyện Hoài Ân, nằm cách huyện lỵ Hoài Ân khoảng 3 km về phía Đông Bắc, cách thành phố Quy Nhơn khoảng 90 km về phía Tây Bắc. Làng An Thường xưa có nghề dệt vải truyền thống, thợ dệt tập trung ở xóm Cửi. Chính tại nơi đây Tăng Bạt Hổ đã cất tiếng khóc chào đời.Tăng Bạt Hổ tự là Sư Triệu, hiệu là Điền Bát, tên thật là Tăng Doãn Văn, sinh ngày 19 tháng 7 năm 1858, chỉ mấy tháng trước khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam. Sinh ra và lớn lên trong thời kỳ đầy những biến động dữ dội, tuổi trẻ Tăng Bạt Hổ đã phải chứng kiến cảnh nhà Nguyễn hèn nhát từng bước đầu hàng rồi dâng toàn bộ đất nước ta cho thực dân Pháp. Là một người thông minh lại sớm có lòng yêu nước và ý chí cứu dân, cứu nước nên ngay khi còn là một thiếu niên mười bốn tuổi, năm 1872, Tăng Bạt Hổ đã tham gia chiến đấu chống Pháp trong hàng ngũ tướng cờ đen Lưu Vĩnh Phúc. Vụ binh biến đêm 22 tháng 5 Ất Dậu (1885) ở kinh thành Huế của phái chủ chiến do Nguyễn Văn Trường, Tôn Thất Thuyết cầm đầu thất bại, vua Hàm Nghi xuất bôn hạ chiếu Cần Vương kêu gọi sĩ phu cùng nhân dân đứng lên kháng chiến chống Pháp. Hưởng ứng chiếu Cần Vương, Tăng Bạt Hổ ra sức chiêu tập anh hào, rèn đúc vũ khí xây dựng chiến khu chống Pháp tại vùng núi Kim Sơn, quê hương ông.Kim Sơn (huyện Hoài Ân) là một vùng rừng núi có địa thế hiểm trở. Tại đ   ây, lực lượng kháng chiến của Tăng Bạt Hổ được tập hợp. Ở Bình Định bấy giờ phong trào kháng chiến chống Pháp phát triển mạnh và dần dần quy tụ dưới ngọn cờ lãnh đạo của Mai Xuân Thưởng. Tăng Bạt Hổ đã liên kết với lực lượng của Mai Nguyên soái và được giao nhiệm vụ giữ mặt trận phía bắc Bình Định. Ông cho quân cùng với Bùi Điền xây dựng và củng cố thêm khu Chóp Chài (Phù Mỹ) và hai đồn tại đèo Phủ Cũ và đèo Bình Đê.Thực dân Pháp và triều đình Nguyễn cử Nguyễn Thân và Trần Bá Lộc, hai tên đại Việt gian, đem quân đàn áp phong trào kháng chiến ở Bình Định. Đầu năm 1886 Tăng Bạt Hổ cử hai tướng là Bùi Điền và Đỗ Duyệt đem quân giao chiến với Nguyễn Thân nhưng bị thất bại trước thế lực của địch. Ông tiếp tục chiêu mộ thêm nghĩa binh, củng cố thêm các đồn lũy. Nhiều trận đánh ác liệt đã diễn ra giữa nghĩa quân với quân của Nguyễn Thân. Cuối cùng mặc dù chiến đấu hết sức dũng cảm và gây cho địch nhiều tổn thất, trước thế mạnh của địch, hầu hết các chiến lũy của nghĩa quân đều bị phá vỡ. Đầu năm 1887 Nguyễn Thân kéo đại quân triệt phá mật khu Kim Sơn, vây bắt Tăng Bạt Hổ. Mặc dù âm mưu của Nguyễn Thân không thực hiện được nhưng do quân ít, vũ khí thô sơ nên cuối cùng nghĩa quân tan rã. Các nghĩa sĩ tản mát rồi nương náu tại các bản làng đồng bào Tây Nguyên.Sau khi cuộc khởi nghĩa bị đàn áp, Tăng Bạt Hổ vượt núi sang Lào, Thái Lan, Trung Quốc, Nga, Nhật theo nghề hàng hải, làm thủy thủ cho tàu buôn, vì thế có điều kiện quan sát văn minh của các nước. Năm 1903 ông về nước, năm sau ông đưa đường cho Phan Bội Châu và Đặng Tử Kính sang Nhật Bản, tổ chức phong trào Đông Du. Năm 1905 ông về nước đem theo bài văn Khuyến thanh niên du học của Phan Bội Châu truyền bá, cổ động. Dưới chiếc áo thầy thuốc ông đi khắp nơi liên lạc tìm người cùng chí hướng. Năm 1906 trên đường từ Nam ra Huế ông lâm bệnh nặng rồi mất trên một chiếc thuyền trên sông Hương. Các đồng chí chôn cất ông ở đất Nam Giao.Họ Tăng ở An Thường sống tập trung tại xóm Cửi, trước đây họ có nhiều gia đình làm nghề dệt vải. Nay tại xóm Cửi vẫn còn một khu đất rộng khoảng 2.400m2, trước cơ ngơi nhà thờ Tăng Bạt Hổ cùng nhiều di tích, sự kiện gắn với tuổi ấu thơ và những hoạt động cứu nước của ông. Khu vườn này, qua thời gian và những biến thiên của lịch sử, hầu như không để lại một dấu vết vật chất nào liên quan đến Tăng Bạt Hổ, đã biến thành vườn trồng hoa màu, thành nhà ở (vẫn của một số gia đình họ Tăng). Nhưng chính ở nơi đây, tuổi thơ của Tăng Bạt Hổ đã đi qua. Sát khu vườn này, ở mạn Tây Bắc trước có một ngôi miếu cổ thờ thần, thường gọi là miếu An Hòa, hàng năm dân làng tổ chức cúng lễ rất long trọng. Cạnh miếu có một cây sộp cổ thụ. Truyền rằng Tăng Bạt Hổ có một khẩu súng lục tự tạo thường đem cất giấu dưới gốc cây này. Nhà Tăng Bạt Hổ được xây dựng trong vườn. Miếu An Hòa, cây sộp cổ thụ, nhà thờ nay đều đã không còn. Tuy nhiên, trong ký ức người dân An Thường, hình ảnh một khu vườn có nhiều gắn bó với Tăng Bạt Hổ vẫn in dấu đậm nét. Nhân dân vẫn gọi đây là khu vườn nhà thờ Tăng Bạt Hổ.

    Đến An Thường nay, đến vườn xưa khó tránh khỏi chút cảm giác bùi ngùi trước bao biến cố vật đổi sao dời. Nhưng dù có thế nào đi nữa thì đây vẫn mãi mãi là khu đất thiêng trong lòng người An Thường, lòng người Hoài Ân.


    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Văn Lập @ 19:07 24/12/2010
    Số lượt xem: 724
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    DANH LAM THẮNG CẢNH VIỆT NAM